Từ cây thuốc dân gian của vùng núi Pù Luông (Thanh Hóa), Quýt hôi lần đầu tiên được “giải mã” bằng các phương pháp nghiên cứu hiện đại, từ định danh di truyền đến phân tích cơ chế kháng viêm ở cấp độ tế bào và phân tử. Kết quả không chỉ làm sáng tỏ tiềm năng kháng viêm của loài cây này mà còn mở ra hướng phát triển sản phẩm hỗ trợ viêm phổi từ dược liệu trong nước với dữ liệu thực nghiệm, quy trình chiết xuất và tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng rõ ràng.
 

Nghiên cứu đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh viêm phổi và các bệnh viêm đường hô hấp vẫn là thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng. Trong điều trị hiện nay, thuốc chống viêm giúp kiểm soát triệu chứng hiệu quả nhưng việc sử dụng kéo dài có thể đi kèm nguy cơ tác dụng phụ, đặt ra nhu cầu tìm kiếm các giải pháp có nguồn gốc tự nhiên với độ an toàn sinh học cao.

Ở cấp độ sinh học, nhiều trường hợp viêm đường hô hấp nặng không chỉ do tác nhân vi khuẩn hoặc virus mà còn liên quan đến phản ứng miễn dịch bị kích hoạt quá mức. Khi đó, cơ thể sản sinh lượng lớn các cytokine tiền viêm như TNF-α, IL-6 cùng nitric oxide (NO), thúc đẩy tổn thương mô phổi và kéo dài tình trạng viêm. Đây cũng là cơ chế trọng tâm trong nghiên cứu các giải pháp chống viêm thế hệ mới.

Theo thống kê trên thế giới, cứ 4 người thì có ít nhất 1 người từng mắc các bệnh viêm đường hô hấp. Trăn trở trước thực tế đó, GS.TS. Nguyễn Mạnh Cường và nhóm nghiên cứu Viện Hoá học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã kiên trì theo đuổi hướng tìm kiếm các hoạt chất chống viêm từ dược liệu tự nhiên. Ông kỳ vọng những nghiên cứu bài bản này sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm an toàn, có cơ sở khoa học, hỗ trợ bảo vệ sức khỏe lá phổi. Đồng thời, đây cũng là hướng đi giúp phát huy giá trị nguồn dược liệu địa phương, đặc biệt là cây Quýt hôi, cây thuốc đặc trưng của Việt Nam nói chung và của tỉnh Thanh hóa nói riêng.

Từ định hướng đó, GS.TS. Nguyễn Mạnh Cường và nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phát triển sản phẩm có tác dụng chống viêm phổi từ một số cây thuốc chọn lọc” (mã số: CT0000.07/22-24). Nghiên cứu tập trung khảo sát 8 cây thuốc chọn lọc có tác dụng kháng viêm trong đó có Quýt hôi, nhằm đánh giá toàn diện từ thành phần hóa học, cơ chế tác dụng đến khả năng phát triển sản phẩm.

Quythoi1

GS.TS. Nguyễn Mạnh Cường tại phòng làm việc (Ảnh: Minh Đức)

Từ nguồn dược liệu bản địa

Quýt hoi (còn gọi là quýt hôi hay quyết rừng) là cây thuốc bản địa của vùng núi Pù Luông, Thanh Hóa. Trong tiếng Thái, cây được gọi là “pén hoi”, còn người Mường địa phương gọi là “nghia hoi”. Hiện nay, cây được trồng và mọc tự nhiên tại một số xã vùng núi cao của huyện Bá Thước như Ban Công, Thành Lâm, Thành Sơn, Lũng Cao, Cổ Lũng và Lũng Niêm với diện tích ước tính khoảng 60 - 80 ha.

Theo chia sẻ GS.TS. Nguyễn Mạnh Cường: Trong dân gian, lá và vỏ quả Quýt hôi từ lâu đã được đồng bào Thái và Mường sử dụng để trị ho hen, cảm cúm, phong thấp. Đặc biệt, lá Quýt hôi còn là thành phần chính trong bài thuốc hỗ trợ điều trị viêm phổi của mế Tiến ở Tân Lạc (Hòa Bình), khu vực giáp ranh với Bá Thước, Thanh Hóa. Tuy nhiên, dù được sử dụng khá phổ biến trong y học dân gian, loài cây này trước đây hầu như chưa được nghiên cứu đầy đủ về tên khoa học, thành phần hóa học cũng như tác dụng kháng viêm. Từ thực tế đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và đánh giá một cách hệ thống nhằm làm rõ giá trị khoa học của nguồn dược liệu bản địa này.

Bằng việc kết hợp song song phương pháp so sánh hình thái thực vật và giải trình tự gen, nhóm nghiên cứu lần đầu tiên xác định chính xác tên khoa học của Quýt hôi là Citrus × aurantium L., trong đó dấu “×” cho thấy đây là loài lai hóa tự nhiên. Kết quả này giúp làm rõ cơ sở khoa học cho cây thuốc dân gian vốn chưa được định danh đầy đủ trước đây.

Theo nhóm nghiên cứu, Quýt hôi mang đặc điểm trung gian giữa hai loài C. maxima và C. reticulata nhưng vẫn có những dấu hiệu phân biệt riêng về hình thái. So với C. maxima, Quýt hôi có cành non, thùy đài hoa và bầu nhụy không có lông, quả thường nhỏ hơn 10 cm. Trong khi đó, loài này khác với C. reticulata ở số lượng nhị hoa và màu sắc lá. Khi tiến hành phân tích tinh dầu lá Quýt hoi tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu còn phát hiện hàm lượng lớn các hợp chất thơm thymol và thymol methyl ether. Đây là những thành phần có liên quan đến hoạt tính sinh học và tiềm năng kháng viêm của dược liệu này.


Hình thái thực vật cây Quýt hoi (Citrus × aurantium L.)

Khi đánh giá tác dụng kháng viêm trong phòng thí nghiệm, cao chiết từ lá Quýt hoi cho thấy khả năng ức chế mạnh sự sản sinh nitric oxide (NO) cùng các cytokine tiền viêm quan trọng như TNF-α và IL-6. Đây là phát hiện đáng chú ý bởi trước đó tác dụng kháng viêm của loài cây này chưa từng được chứng minh rõ ràng bằng thực nghiệm. Không chỉ Quýt hoi, rễ cây Nhó đông cũng cho thấy hoạt tính kháng viêm mạnh. Lần đầu tiên, cao ethanol 95% từ rễ cây này được xác nhận không gây độc tính trên động vật thực nghiệm, đồng thời có khả năng ức chế các cytokine tiền viêm quan trọng.

Từ các nguồn dược liệu nghiên cứu, nhóm đã phân lập và xác định một số hợp chất thiên nhiên có tiềm năng sinh học cao như tangeretin, nobiletin, morindone, ostruthin và murrayafoline A. Các hợp chất này được ghi nhận có khả năng điều hòa những con đường tín hiệu liên quan đến phản ứng viêm.

Trao đổi về điểm nổi bật của nghiên cứu, GS.TS. Nguyễn Mạnh Cường cho biết: Nhóm đã phối hợp với Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) để đánh giá tác dụng của các hợp chất thiên nhiên trên mô hình mô phỏng tình trạng đồng nhiễm vi khuẩn và virus, một đặc trưng thường gặp ở các ca viêm phổi nặng trên lâm sàng. Trên mô hình này, các hợp chất tự nhiên như morindone (từ cây Nhó đông), ostruthin (từ Xáo tam phân) và murrayafoline A (từ cây Cơm rượu trái hẹp) cho thấy khả năng làm giảm mạnh các chất trung gian gây viêm.


GS.TS. Nguyễn Mạnh Cường cùng nhóm nghiên cứu tại phòng thí nghiệm (Ảnh: Minh Đức)

Cũng theo GS.TS. Nguyễn Mạnh Cường: Mô hình thực nghiệm kết hợp LPS - thành phần đại diện cho vi khuẩn Gram âm và poly (I:C) - đại diện cho RNA virus, giúp mô phỏng sát hơn phản ứng viêm phức tạp xảy ra trong cơ thể người bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy các hợp chất tự nhiên này có tiềm năng trong kiểm soát hiện tượng “bão cytokine”, phản ứng miễn dịch quá mức có thể dẫn đến tổn thương phổi cấp và làm bệnh diễn tiến nghiêm trọng hơn.

Đến sản phẩm hỗ trợ viêm phổi

Từ các kết quả nghiên cứu, nhóm đã lựa chọn hai nguồn dược liệu có trữ lượng dồi dào là lá Quýt hôi và rễ Nhó đông để phát triển sản phẩm. Trong đó, quy trình chiết xuất ethanol 95% từ lá Quýt hôi đã được xây dựng thành công ở quy mô 15 kg/mẻ. Nhóm cũng thiết lập tiêu chuẩn cơ sở và thực hiện kiểm nghiệm theo Dược điển Việt Nam V, nhằm bảo đảm tính ổn định và khả năng kiểm soát chất lượng của nguồn cao chiết.

Trên cơ sở đó, viên nang HL được bào chế với thành phần chính là cao lá Quýt hôi kết hợp cao rễ Nhó đông, curcumin (từ nghệ) và menthol (từ bạc hà). Theo nhóm nghiên cứu: Sự phối hợp này tạo hiệu ứng hiệp đồng khi nhiều hoạt chất cùng tham gia điều hòa các cơ chế viêm khác nhau, từ giảm sản sinh cytokine, hạn chế stress oxy hóa đến hỗ trợ bảo vệ mô phổi trên mô hình viêm phổi thực nghiệm.


Mẫu sản phẩm thử nghiệm Vượng Phế Plus dạng đóng lọ (Ảnh: Minh Đức)

Đáng chú ý, viên nang HL cho thấy hiệu quả tích cực trên mô hình viêm phổi thực nghiệm khi giúp giảm phù nề, hạn chế ứ dịch ở phổi và làm giảm các chất trung gian gây viêm trong đường hô hấp. Các quan sát mô bệnh học cũng cho thấy tổn thương mô phổi được cải thiện rõ rệt. Bên cạnh hiệu quả chống viêm, sản phẩm còn cho thấy độ an toàn khả quan khi chưa ghi nhận dấu hiệu độc tính trong quá trình theo dõi thực nghiệm. Ở mức liều quy đổi tương đương khoảng 4 viên/ngày đối với người trưởng thành, viên nang HL vẫn duy trì tác dụng chống viêm rõ rệt.

Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá đề tài có cách tiếp cận bài bản, chiều sâu khoa học và giá trị thực tiễn thiết thực. Kết quả nghiên cứu được công bố trên 4 bài báo quốc tế thuộc danh mục SCIE (1 bài Q1 và 3 bài Q3), qua đó khẳng định chất lượng học thuật và mức độ hội nhập quốc tế của nhóm nghiên cứu.

Thành công của đề tài cho thấy khi khoa học tiếp cận dược liệu bằng phương pháp hệ thống và hiện đại, giá trị của cây thuốc bản địa có thể được nâng tầm từ kinh nghiệm dân gian thành những sản phẩm có tiềm năng ứng dụng thực tiễn. Kết quả nghiên cứu cũng mở ra hướng phát triển bền vững cho nguồn dược liệu trong nước, gắn tri thức bản địa với công nghệ và nghiên cứu hiện đại.

Nguồn: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Bài viết khác: