Viện Hóa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (trước đây là Viện Khoa học Việt Nam) được thành lập theo Quyết định số 230/CP ngày 16/9/1978 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

I. Chức năng

Nghiên cứu cơ bản, phát triển công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực hóa học và các lĩnh vực khác có liên quan theo quy định của pháp luật.

II. Nhiệm vụ

- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hóa học làm cơ sở cho việc phát triển các hướng công nghệ mới;

- Nghiên cứu và triển khai ứng dụng trong các lĩnh vực Hoá vô cơ, Hoá hữu cơ, Hoá phân tích, Hoá lý, Hoá cao phân tử, Hoá sinh hữu cơ và những lĩnh vực khác có liên quan;

- Nghiên cứu chuyển giao công nghệ, xét duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật và các công trình trong lĩnh vực Hoá học và Công nghệ hoá học;

- Nghiên cứu phát hiện các chất có hoạt tính sinh học và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam;

- Nghiên cứu các vật liệu tiên tiến ứng dụng trong các lĩnh vực xử lý môi trường, năng lượng, y sinh, nông nghiệp và các lĩnh vực khác có liên quan;

- Dịch vụ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực Hóa học và các lĩnh vực khác có liên quan;

- Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực hóa học và các lĩnh vực khác có liên quan;

- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hóa học và các lĩnh vực khác có liên quan;

- Quản lý về tổ chức, bộ máy; quản lý và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức của đơn vị theo quy định của Nhà nước và của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam;

- Quản lý về tài chính, tài sản của đơn vị theo quy định của Nhà nước;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Viện giao.

III. Các giai đoạn phát triển

1. Giai đoạn 1978 – 1987

* Viện trưởng: GS. TSKH. Hồ Sỹ Thoảng, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam kiêm Viện trưởng Viện Hoá học.

* Các phó Viện trưởng: PGS. TS. Trần Nguyên Tiêu (1979-1992) và GS. TSKH. Đặng Văn Luyến (1985-1987).

* Về tổ chức: Viện có 5 phòng nghiên cứu, 4 tổ nghiên cứu, văn phòng Viện (nay là phòng Quản lý Tổng hợp):

- Phòng Hóa hợp chất thiên nhiên

- Tổ Điện hóa

- Phòng Hóa Phân tích

- Tổ Hóa lý và Hóa học bề mặt

- Phòng Hóa Cao Phân tử

- Tổ Hóa Môi trường

- Phòng Hóa Vô cơ

- Tổ Lý thuyết và Hóa Công nghệ

- Phòng Hóa Cấu trúc

Năm 1987, phòng Hóa Cao phân tử tách ra để thành lập Trung tâm Hóa Cao phân tử, trực thuộc Viện Khoa học Việt Nam.

* Tiềm lực cán bộ: Gồm có 70 cán bộ, được chuyển đến từ nhiều đơn vị khác nhau. Sau 10 năm xây dựng, đến năm 1986, khu nhà 4 tầng, gồm 46 phòng làm việc với tổng diện tích 3570 m

 2. Giai đoạn 1987-1992

* Viện trưởng: GS. TSKH. Quách Đăng Triều

* Các Phó Viện trưởng: PGS. TS. Trần Nguyên Tiêu (1979-1992), GS. TSKH. Trịnh Xuân Giản (1989-1993), GS. TS. Nguyễn Đức Nghĩa (1990-1993) và PGS. TS. Nguyễn Văn Hải (1991-1994).

* Về tổ chức: Thời kỳ này, cơ cấu tổ chức của Viện Hóa học có nhiều thay đổi. Viện Khoa học Việt Nam đã sắp xếp lại tổ chức của Viện và thành lập 5 Trung tâm nghiên cứu trực thuộc Viện Hóa học, gồm:

- Trung tâm Hoá Cao phân tử

- Trung tâm Hoá Phân tích

- Trung tâm Hoá mầu ảnh

- Trung tâm Hoá vô cơ

- Trung tâm Điện hoá

Ngoài ra, Phân Viện nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh của Viện Hóa học (Viện Hóa học-cơ sở II) gồm có 4 phòng nghiên cứu: Phòng Xúc tác – Hóa dầu, Phòng Hóa hợp chất thiên nhiên, Phòng Hóa học ứng dụng và Phòng Hóa hữu cơ.

3. Giai đoạn 1992 – 2002

* Viện trưởng: GS. Viện sĩ Đặng Vũ Minh

* Các phó Viện trưởng: PGS. TS. Phạm Hữu Lý (1993-2003),PGS.TS. Nguyễn Văn Hải(1991 – 1994), GS. TSKH. Trần Văn Sung (1993-2002), TS. Phạm Văn Quý (1995-1997) và TS. Nguyễn Thế Đồng (1997-2002).

* Tổ chức bộ máy:Thời kì này, các Trung tâm của Viện được giải thể và thành lập 21 Tập thể khoa học.

Năm 2002, 2 tập thể khoa học của TS. Nguyễn Thế Đồng và PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Thảo đã chuyển về Viện Công nghệ Môi trường.

* Tiềm lực cán bộ:Gồm có 137 cán bộ biên chế, trong đó có 4 Giáo sư, 14 phó Giáo sư, 37 tiến sĩ, 10 thạc sĩ, 60 đại học và 12 kỹ thuật viên, nhân viên.

* Tiềm lực cơ sở vật chất:Năm 1999-2000, Viện Hóa học được đầu tư dự án sửa chữa nâng cấp ngôi nhà làm việc 4 tầng khang trang, đã cải thiện đáng kể điều kiện làm việc của cán bộ viên chức trong đơn vị. Năm 2002, Viện cũng hoàn thành xây dựng và chính thức đưa vào sử dụng ngôi nhà làm việc 8 tầnggồm 48 phòng làm việc vànhiềuphòng thí nghiệm với diện tích 3.528 m2.

* Tiềm lực trang thiết bị:Thời kỳ này, Viện Hoá học đã được trang bị thêm nhiều thiết bị hiện đại như: Thiết bị Cộng hưởng từ hạt nhân phân giải cao 500 MHz, thiết bị sắc ký khí khối phổ GC-MS, thiết bị Quang phổ hấp phụ nguyên tử AAS 3300, thiết bị phân tích nhiệt Shimadzu TA-50, thiết bị phổ hồng ngoại FT-IRvà nhiều trang thiết bị đầu tay khác.

* Thi đua khen thưởng:Năm 1998, Viện được nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Nhất, nhân dịp 20 năm thành lập.

4. Giai đoạn 2002 – 2008

* Viện trưởng: GS.TSKH. Trần Văn Sung

* Các Phó Viện trưởng:GS. TS. Nguyễn Văn Hùng (2003 - 2010),Ths. Trần Văn Chín(2003 – 2012), GS.TS. Nguyễn Văn Tuyến (2007-2008).

* Tổ chức bộ máy:Gồm có phòng Quản lý tổng hợp, 2 phòng nghiên cứu, 24 tập thể khoa học , 1 đơn vị tự trang trải kinh phí (Trung tâm hóa dược và hóa sinh hữu cơ. Các đơn vị nghiên cứu chia làm 5 hướng chính, gồm: Hướng Hoá sinh hữu cơ, Hướng Khoa học và Công nghệ polyme, Hướng Vô cơ hoá lý, Hướng Hoá phân tích và Hướng Hoá môi trường.

*Tiềm lực cán bộ:Gồm có 238 cán bộ (130 biên chế và 108 hợp đồng dài hạn). Trong đó có 5 giáo sư, 15 phó giáo sư, 37 tiến sĩ, 16 thạc sĩ, 45 đại học và 13 KTV.

* Tiềm lực trang thiết bị:Viện đã được đầu tư tăng cường một số thiết bị hiện đại:Thiết bị khối phổ phân giải cao biến đổi Fourier (FT-ICR-MS), thiết bị sắc ký lỏng khối phổ (LC-MS) Agilent 1100, thiết bị phân tích điện hóa đa chức năng, phòng thí nghiệm thử hoạt tính sinh học và nhiều thiết bị đầu tay khác.

* Thi đua khen thưởng:Năm 2003,Viện Hóa học đã được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Ba, nhân kỷ niệm 25 năm thành lập Viện và năm 2008 được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì, nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Viện. GS.VS. Đặng Vũ Minh, nguyên Viện trưởng Viện Hóa học được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 2003). GS.TS Trần Nguyên Tiêu, GS.TSKH Trần Văn Sung và PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Túđược tặng Huân chương Lao động hạng Ba (2008).

5. Giai đoạn 2008 đến nay:

* Lãnh đạo Viện

Viện trưởng: GS.TS. Nguyễn Văn Tuyến từ 2008 đến nay

Các Phó Viện trưởng: GS.TS.Nguyễn Văn Hùng (2003-2010), Ths. Trần Văn Chín (2003 – 2012), PGS.TS. Vũ Anh Tuấn (2008-2018), PGS.TS. Ngô Quốc Anh (từ 2012 đến nay), PGS.TS. Vũ Đức Lợi (từ 2012 đến nay), TS. Hoàng Mai Hà (từ 2018 đến nay).

* Tổ chức bộ máy: Gồm có phòng Quản lý tổng hợp, 22 phòng nghiên cứu và 1 trung tâm tương đương các phòng. Các đơn vị nghiên cứu chia làm 5 hướng chính, gồm: Hướng Hoá sinh hữu cơ, Hướng Khoa học và Công nghệ polyme, Hướng Vô cơ hoá lý, Hướng Hoá phân tích và Hướng Hoá môi trường.

Bài viết khác: