Vietnam English

Nghiên cứu khoa học

Tóm tắt kết quả thực hiện đề tài: Nghiên cứu quy trình tách chiết, cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học của glucomannan từ cây Nưa-Amorphophallus sp. (họ ráy -Araceae)

1.      Tên đề tài: Nghiên cứu quy trình tách chiết, cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học của glucomannan từ cây Nưa-Amorphophallus sp. (họ ráy -Araceae), Mã số: VAST06.03/12-13.                                          

2.      Chủ nhiệm đề tài: TS.Trần Thị Ý Nhi

3.      Cơ quan chủ trì: Viện Hóa học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

4.      Thuộc hướng khoa học và công nghệ: Hướng Đa dạng sinh học và các chất có hoạt tính sinh học, Mã số hướng: VAST06

5.      Thời gian thực hiện: từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013

6.      Kinh phí: 500 triệu đồng

7.      Mục tiêu đề tài:

-   Xây dựng quy trình tách chiết glucomannan quy mô phòng thí nghiệm từ củ Nưa -Amorphophallus sp.

-   Nghiên cứu hoạt tính sinh học và tính an toàn trên động vật thực nghiệm của chế phẩm glucomannan.

8.      Các kết quả chính của đề tài:

8.1. Về khoa học:

a) Đã thu và xác định tên khoa học của 3 loài Nưa ở Việt Nam là: Amorphhophallus konjac K.Koch ; Amorphophallus corrugatus N. E. Br và Amorphophallus paeoniifolius (Dennst.) Nicolson. Trong đó loài Amorphhophallus konjac K.Koch  mới được phát hiện ở Việt Nam năm 2012.

b) Quy trình xác định hàm lượng glucomannan trong thân (củ) cây Nưa tại Việt Nam đã được xây dựng bằng phương pháp so màu thuốc thử 3,5-DNS.

Trên cơ sở xác định hàm lượng glucomannan trong từng loài Nưa đã xây dựng được quy trình tách chiết glucomannan quy mô phòng thí nghiệm từ 3 loài Nưa Amorphhophallus konjac K.Koch ; Amorphophallus corrugatus N. E. Br và Amorphophallus paeoniifolius (Dennst.) Nicolson. Cấu trúc hóa học tính chất hóa lý của sản phẩm cũng đã được xác định.

c) Kết quả đánh giá hoạt tính sinh học của cây A.konjac cho thấy glucomannan không thể hiện độc tính ngay cả khi thử với liều cao nhất có thể cho uống (10g/kg).

-          Glucomannan ở các nồng độ 5mg/ml, 10mg/ml và 20mg/ml không có tác dụng ức chế a-glucosidase (p>0.05).

-          Ở cùng nồng độ mẫu thử 100 µg/ml, tỷ lệ mức độ biểu hiện của p-AMPK so với β-actin của mẫu thử glucomannan và chất đối chiếu là metformin đều tăng cao hơn rõ rệt so với lô chứng. Số lần tăng mức độ biểu hiện p-AMPK của lô tế bào ủ glucomannan gấp 1.90 lần so với lô chứng.

-          Ở lô chuột uống glucomannan với liều 6g/kg cân nặng, tại thời điểm 60 phút sau uống glucose, tỷ lệ tăng glucose huyết thấp hơn rõ rệt so với tỷ lệ tăng glucose huyết của lô chứng tại cùng thời điểm (p<0.05).

8.2. Về ứng dụng:

Sản phẩm khoa học công nghệ của đề tài có tiềm năng ứng dụng làm thực phẩm chức năng cho người mắc bệnh tiểu đường, béo phì.

9.      Những đóng góp mới của đề tài

-   Xây dựng thành công quy trình xác định hàm lượng glucomannan;

-   Xây dựng thành công quy trình tách glucomannan quy mô phòng thí nghiệm;

-   Lần đầu tiên thu, xác định cấu trúc hóa học, hoạt tính sinh học của glucomannan tách được từ thân (củ) cây A.konjac.

10.   Sản phẩm cụ thể giao nộp

-  Các bài báo đã công bố:

1. “Quantitative analysis of glucomannan content in Amorphophallus konjac glucomannan flour by 3,5-Dinitrosalicy (DNS) colorimetry”, Tạp chí Hóa học, Vol.51, p.75-80.

2. Useful aroids and their prospects in Vietnam, XIth International Aroid Conference, Hanoi, 11th -13th December 2013.

3. Analysis of glucomannan in flour prepared from wild Amorphophallus spp. in Vietnam, XIth International Aroid Conference, Hanoi, 11th -13th December 2013.

- Các sản phẩm khác (nếu có): 1500 g bột glucomannan.

11. Địa chỉ đã áp dụng, hoặc đề nghị áp dụng (nếu có):

12. Kiến nghị của chủ nhiệm đề tài (nếu có):

Chúng tôi mong muốn được tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu này để hoàn thiện hơn quy trình công nghệ tách chiết glucomannan ở quy mô lớn, dạng tinh sạch hơn, phục vụ công nghiệp thực phẩm và hóa dược, giảm nhập khẩu, giúp xóa đói giảm nghèo.

Chủ nhiệm đề tài cam kết chịu trách nhiệm về sự chính xác của các thông tin nêu trên.